NCS. Trần Văn Nam chụp ảnh lưu niệm cùng hội đồng
Mục đích nghiên cứu:
Mục
đích nghiên cứu của luận án tập trung vào việc phân tích và làm rõ hệ thống
pháp luật có liên quan đến việc điều chỉnh giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trong khu công nghiệp. Trên cơ sở đó, cung cấp những luận cứ lý luận và thực
tiễn để định hướng và đưa ra giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, bảo đảm sự thống nhất, minh bạch
và khả thi trong thực tiễn thực hiện pháp luật tại các khu công nghiệp, đồng thời
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Đóng góp mới của luận án
Luận án tiếp cận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
khu công nghiệp như một hiện tượng pháp lý - kinh tế đặc thù. Luận án nghiên cứu sự phức tạp, trùng lặp và thiếu thống nhất trong
thủ tục hành chính hiện nay đang là rào cản lớn, làm suy giảm khả năng tiếp cận
đất đai, kìm hãm dòng vốn đầu tư và giảm hiệu quả sử dụng đất. Từ đó, luận án
khẳng định yêu cầu khách quan phải cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện cơ
chế pháp lý theo hướng công khai, minh bạch, ổn định và thuận lợi cho hoạt động
đầu tư.
Luận án nghiên cứu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất khu công nghiệp trong bối cảnh biến động kinh tế, chính trị và pháp lý
trong nước cũng như quốc tế, bao gồm ảnh hưởng của đại dịch, biến động chuỗi
cung ứng toàn cầu và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế. Luận án phân tích sự khác biệt trong giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa các loại hình tổ chức kinh tế, giữa tổ chức trong
nước và tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như giữa hoạt động chuyển nhượng
và các quyền khác như cho thuê, cho thuê lại hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng
đất.
Luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu là tỉnh Bình
Dương nay đã sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số
202/2025/QH15 của Quốc hội làm địa bàn nghiên cứu điển hình. Kết quả nghiên cứu
cho thấy đặc thù về môi trường đầu tư, cơ chế quản lý tại Bình Dương có ảnh
hưởng đáng kể đến cách thức tổ chức và thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất khu công nghiệp.
Luận án chỉ ra các ưu điểm cần được phát huy, đồng thời
nhận diện những vướng mắc, bất cập cần khắc phục để hướng tới một môi trường
pháp lý minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho phát triển công nghiệp bền
vững. Trên cơ sở những
luận cứ khoa học và thực tiễn, luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp tại Bình Dương.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trong khu công nghiệp, xác lập các luận cứ để đánh giá sự hoàn thiện
của quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Những kết quả nghiên cứu của luận
án còn định hình hướng tiếp cận khoa học trong việc nhận diện, phân tích và
đánh giá pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất khu công nghiệp theo các
tiêu chí thống nhất, khả thi và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu của
luận án góp phần bổ sung, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trong các khu công nghiệp.
Luận án phân tích một cách toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn
thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp tại
Bình Dương, từ đó luận án đánh giá và chỉ ra những kết quả đã đạt được trong
quá trình thực hiện pháp luật cũng như những hạn chế, vướng mắc của quy định
pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật tại khu công nghiệp Bình Dương. Kết
quả nghiên cứu thực trạng được sử dụng làm luận cứ thực tiễn để đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trong các khu công nghiệp.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn
thiện quy định pháp luật về đất đai, đầu tư, kinh doanh bất động sản… đồng thời
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các tổ chức kinh tế
trong và ngoài nước thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
các khu công nghiệp.
Luận
án được 7/7 thành viên Hội đồng nhất trí thông qua.