Thứ Năm, 01/10/2026 03:09 CH
Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh “Động lực làm việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại Học viện Khoa học xã hội, số 477 Nguyễn Trãi, Thanh Liệt, Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thùy đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh; Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 9 34 01 01; Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Tá Khánh & PGS.TS. Lê Mạnh Hùng.
NCS.
Nguyễn Thị Phương Thùy chụp ảnh lưu niệm
Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng động lực làm
việc của NVYT (nhân viên ý
tế) tại các BVCL (bệnh viện công lập) thực hiện cơ chế TCTC (Tự chủ tài chính) trên địa bàn thành phố Hà Nội; phân tích và kiểm định mức độ
ảnh hưởng của các yếu tố thuộc yêu cầu công việc, nguồn lực công việc và nhận
thức về cơ chế TCTC đến động lực làm việc; từ đó đề xuất các hàm ý quản trị và
khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao động lực làm việc của NVYT.
Đóng góp mới của luận án
Về mặt lý
luận
Thứ nhất, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu về động lực làm việc của
NVYT trong bối cảnh BVCL thực hiện cơ chế TCTC trên cơ sở kế thừa và tích hợp
bốn nền tảng lý thuyết: Mô hình Nhu cầu - Nguồn lực công việc (JD-R), Thuyết Tự
quyết (SDT), Thuyết Trao đổi xã hội (SET) và Thuyết Động lực phụng sự công
(PSM). Khác với các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào yếu tố cá nhân hoặc môi
trường làm việc, mô hình đề xuất xem xét đồng thời vai trò của nguồn lực công
việc, đặc điểm tổ chức và yếu tố thể chế.
Thứ hai, luận án đưa nhân tố nhận thức về cơ chế TCTC vào mô hình
nghiên cứu và kiểm định vai trò của nhân tố này đối với động lực làm việc của
NVYT, qua đó bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của yếu tố thể chế - một
góc nhìn còn ít được đề cập trong các nghiên cứu trước.
Thứ ba, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mức độ và thứ tự
ảnh hưởng của các nhân tố đến động lực làm việc của NVYT tại các BVCL thực hiện
cơ chế TCTC ở thành phố Hà Nội.
Về mặt
thực tiễn
Thứ nhất, luận án xây dựng cơ sở thực nghiệm để xác định các nhân tố
và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến động lực làm việc của NVYT. Thứ hai, luận án đề xuất hệ thống giải
pháp quản trị được ưu tiên theo mức độ tác động của từng nhân tố, thay vì đề
xuất các giải pháp mang tính tổng quát. Thứ
ba, luận án xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách quản trị
nguồn nhân lực trong các BVCL thực hiện cơ chế TCTC trên cơ sở lượng hóa mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố đến động lực làm việc của NVYT.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
luận án
Về lý luận, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham
khảo về động lực làm việc của NVYT trong bối cảnh BVCL thực hiện cơ chế TCTC,
đồng thời là cơ sở khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong lĩnh
vực quản trị nguồn nhân lực, quản trị bệnh viện và quản trị khu vực công.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ khoa học giúp các nhà
quản lý BVCL xác định các yếu tố ưu tiên trong quản trị nguồn nhân lực nhằm
nâng cao động lực làm việc của NVYT phù hợp với cơ chế TCTC; là cơ sở tham khảo
cho cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình hoàn thiện chính sách về TCTC gắn
với quản trị nguồn nhân lực; và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đơn vị sự
nghiệp công lập trong quá trình hoàn thiện cơ chế tự chủ.
Luận án được các thành viên Hội đồng nhất trí thông qua.
Minh Nguyệt