Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Chính trị học “Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế số ở Việt Nam hiện nay”
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại Học viện Khoa học xã hội, số 477 Nguyễn Trãi, Thanh Liệt, Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Công đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Chính trị học; Chuyên ngành: Chính trị học; Mã số: 9 31 02 01; Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Dương Xuân Ngọc & TS. Vũ Mạnh Toàn.
Các đại biểu tham dự Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện
NCS. Nguyễn Thành Công
Tham
dự buổi đánh giá luận án cấp Học viện, về phía lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội,
có: PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện.
Về
phía các đại biểu, nhà khoa học, có: GS. TS. Detlef Briesen, Giảng viên Đại học
Tổng hợp Justus Liebig Giessen (JLU), Cộng hòa liên bang Đức, Cố vấn giáo dục đại
học tại Việt Nam - Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD); TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chuyên gia Khoa học chính trị, thể chế và
chính sách công; TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài
chính - Tiền tệ Quốc gia, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc
gia; PGS. TS. Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trưởng
ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam; tập thể nhà khoa học hướng dẫn
nghiên cứu sinh: GS, TS. Dương Xuân Ngọc, nguyên Phó Giám đốc Học viện Báo chí
và Tuyên truyền, thành viên Hội đồng Khoa học Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh; TS. Vũ Mạnh Toàn, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Biên tập phụ trách Tạp
chí Nhân lực Khoa học xã hội và đại diện cơ quan, đồng nghiệp, gia đình NCS.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong việc
phát triển kinh tế số ở Việt Nam hiện nay; luận án đánh giá thực trạng vai trò
của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế số ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả
đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế; từ đó đề xuất các
quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của Nhà nước
trong việc phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
Đóng góp mới của luận
án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý
luận
(1) Luận án bổ sung và phát triển cách tiếp cận chính trị học
phát triển trong nghiên cứu kinh tế số ở Việt Nam. Thay vì chủ yếu tiếp cận từ
kinh tế học, quản lý nhà nước hoặc chính sách công, luận án đặt phát triển kinh
tế số trong mối liên hệ với thể chế, quản trị phát triển và năng lực Nhà nước;
coi kinh tế số không chỉ là một lĩnh vực hay động lực tăng trưởng mới, mà còn
là không gian phát triển gắn với sự biến đổi phương thức tổ chức và điều hành nền
kinh tế - xã hội. Qua đó, luận án góp phần mở rộng phạm vi và chiều sâu nghiên
cứu chính trị học về các vấn đề phát triển trong kỷ nguyên số.
(2) Luận án làm rõ sự mở rộng nội dung và đổi mới phương thức
thực hiện vai trò của Nhà nước kiến tạo phát triển. Kinh tế số không làm thay đổi
các chức năng cơ bản của Nhà nước, nhưng đòi hỏi Nhà nước phát huy rõ hơn vai
trò định hướng chiến lược, kiến tạo thể chế, điều phối hệ sinh thái số, quản trị
dựa trên dữ liệu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm phát triển bao trùm và chủ
quyền số, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Qua đó, luận án góp phần
bổ sung nhận thức lý luận về Nhà nước kiến tạo phát triển trong những điều kiện
mới của kỷ nguyên số.
(3) Luận án đề xuất khái niệm, xây dựng khung phân tích gồm 07
phương diện và hệ 28 tiêu chí thành phần đánh giá vai trò của Nhà nước trong việc
phát triển kinh tế số. Vai trò này được hiểu là sự thể hiện vị thế, trách nhiệm,
năng lực và khả năng tác động của Nhà nước với tư cách chủ thể quyền lực chính
trị trung tâm trong định hướng chiến lược, kiến tạo thể chế, quản trị, điều phối
nguồn lực và tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển phù hợp với định hướng
xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển quốc gia. Bảy phương diện gồm: (i) Xác lập
định hướng chiến lược và mô hình tăng trưởng; (ii) Kiến tạo và hoàn thiện thể
chế; (iii) Phát triển hạ tầng số và kinh tế dữ liệu quốc gia; (iv) Phát triển
công nghệ số và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; (v) Phát triển nguồn
nhân lực số; (vi) Bảo đảm phát triển bao trùm và công bằng xã hội; (vii) Bảo đảm
chủ quyền số và an ninh kinh tế số. Khung phân tích và hệ tiêu chí tạo lập công
cụ thống nhất để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.
Những phát hiện và đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận
án
(1) Kết quả đánh giá 28 tiêu chí cho thấy 07 tiêu chí đạt mức 3,
15 tiêu chí mức 2 và 06 tiêu chí mức 1; phương diện xác lập định hướng chiến lược
và mô hình tăng trưởng được thực hiện tốt, 04 phương diện thực hiện khá, 02
phương diện về công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực còn hạn chế. Điểm
nghẽn chủ yếu không nằm ở sự thiếu vắng chủ trương hay định hướng chiến lược,
mà ở chất lượng thể chế, năng lực điều phối, phối hợp và tổ chức thực thi, nhất
là năng lực quản trị phát triển và quản trị số của bộ máy nhà nước. Khoảng cách
giữa định hướng và kết quả thực tiễn là hạn chế nổi bật cần khắc phục.
(2) Luận án chỉ ra sự mở rộng nội dung, đối tượng và phương
thức thực hiện vai trò của Nhà nước khi dữ liệu, hạ tầng số, nền tảng số, công
nghệ chiến lược, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực số trở thành
các nguồn lực phát triển mới. Bảo đảm chủ quyền số, an ninh kinh tế số và nâng
cao năng lực tự chủ chiến lược là những yêu cầu mới đối với Nhà nước trong kỷ
nguyên số.
(3) Luận án đề xuất 08 nhóm giải pháp đồng bộ, trong đó đổi mới tư
duy, phương thức quản trị và nâng cao năng lực kiến tạo phát triển là giải pháp
nền tảng, xuyên suốt. Trọng tâm là đổi mới phương thức thực thi quyền lực theo
hướng kết hợp quản lý nhà nước với quản trị, kiến tạo phát triển; chuyển từ điều
hành theo kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, bằng chứng, kết quả và
trách nhiệm giải trình; củng cố cơ chế điều phối quốc gia với một đầu mối đủ mạnh,
đủ thẩm quyền, không nhất thiết thành lập cơ quan mới. Các đề xuất mới gồm: Chiến
lược phát triển kinh tế số Việt Nam đến năm 2045; Luật Kinh tế số; Chiến lược
quốc gia phát triển nguồn nhân lực số; Chiến lược quốc gia về chủ quyền số và tự
chủ chiến lược; Bộ chỉ số năng lực quản trị số quốc gia; Khung đánh giá mức độ
tự chủ chiến lược số; cơ chế phát triển thị trường dữ liệu quốc gia và Đề án
phát triển doanh nghiệp công nghệ số dân tộc dẫn dắt.
Luận án được các thành viên Hội đồng nhất trí bỏ phiếu thông
qua.