Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học hiện đại, sự hình
thành và bùng nổ của Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) từ cuối thế
kỷ XX đã tạo nên một bước ngoặt mang tính hệ hình sâu sắc. Khác với đường hướng
cấu trúc luận hay tạo sinh truyền thống vốn coi ẩn dụ chỉ là một thủ pháp tu
từ, một sự lệch chuẩn có tính chất nghệ thuật hay thi ca, học thuyết ẩn dụ ý
niệm do George Lakoff và Mark Johnson khởi xướng (1980, 1999) đã khẳng định ẩn
dụ là một cơ chế tri nhận nền tảng của tâm trí con người. Theo đó, ẩn dụ ý niệm
(conceptual metaphor) chính là cấu trúc tư duy vô thức cho phép con người sử
dụng logic của các miền kinh nghiệm cụ thể, trực quan (miền nguồn - source
domain) để hình dung, tổ chức và diễn giải các miền khái niệm trừu tượng, phức
tạp (miền đích - target domain). Cốt lõi của cơ chế này là tính nghiệm thân
(embodiment), theo đó các trải nghiệm thân thể trong quá trình tương tác với
môi trường tự nhiên và bối cảnh văn hóa - xã hội góp phần hình thành, định hình
và phát triển hệ thống ý niệm của cộng đồng.
Tại Việt Nam, mặc dù hướng tiếp cận tri nhận đã thu hút sự chú ý
của giới nghiên cứu trong hai thập kỷ qua, song các công trình chuyên khảo được
triển khai một cách hệ thống, với quy mô ngữ liệu lớn và có sự đối sánh đa
chiều giữa di sản dân gian với diễn ngôn truyền thông hiện đại vẫn còn khiêm
tốn. Sự ra đời và tái bản công trình chuyên khảo “Ẩn dụ ý niệm trên tư liệu thành ngữ và báo
mạng tiếng Việt”
của PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh (Giảng viên Học viện Khoa học xã hội, thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) là một đóng góp học thuật tiêu biểu,
giải mã sâu sắc bức tranh tư duy và văn hóa Việt qua lăng kính ngôn ngữ học tri
nhận.
Điểm sáng trong phương pháp luận của công trình nằm ở
việc thiết kế ngữ liệu
sóng đôi độc đáo, đặt hai khối ngữ liệu đại diện cho hai cực phong cách ngôn
ngữ hoàn toàn đối lập lên cùng một trục phân tích tri nhận: (i) Thành ngữ
tiếng Việt: Khối “trầm tích văn hóa” dân gian truyền thống mang tính ổn
định cao, đúc kết trọn vẹn tri thức dân gian, nhân sinh quan và thế giới quan
của cư dân nông nghiệp lúa nước qua nhiều thế kỷ; (ii) Báo mạng điện tử (chuyên
mục Chính trị và Thể thao): Khối diễn ngôn truyền thông hiện đại,
cập nhật nhịp sống đương đại với sự chuyển động linh hoạt, năng động của ngôn
ngữ báo chí tiếng Việt.
Trên nền tảng quy trình nhận diện ẩn dụ chuẩn quốc tế MIP
(Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz đề xuất, kết hợp với các
thao tác lập sơ đồ ánh xạ (mapping), phân tích lược đồ hình ảnh (image schema)
và khung tri nhận (cognitive frame), tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục
rằng: ẩn dụ ý niệm không chỉ là sản phẩm lưu giữ quá khứ mà đang liên tục tái
sinh, vận động để định hình cách công chúng hiện đại diễn giải các sự kiện
chính trị, xã hội và thể thao.
Nội dung chuyên khảo được triển khai công phu qua 3 chương
chính, bóc tách sắc sảo cấu trúc tri nhận của người Việt trên ba loại hình ẩn
dụ căn bản:
1. Ẩn dụ cấu trúc (Structural Metaphor):
Trong kho tàng thành ngữ: Công trình giải mã
các mô hình ý niệm đậm chất văn hóa bản địa như CON NGƯỜI LÀ CÂY, CON NGƯỜI LÀ
THỰC PHẨM/MÓN ĂN, LỢI ÍCH LÀ MÓN ĂN, KẾT QUẢ LÀ MÓN ĂN. Qua đó, tư duy tri nhận
của người Việt hiện lên vô cùng mộc mạc và tinh tế: sự gắn bó với thảo mộc và
văn hóa ẩm thực khiến kinh nghiệm vị giác (chua, cay, mặn, ngọt, khê, nồng) trở
thành công cụ đo lường các giá trị đạo đức, tâm lý và thái độ ứng xử xã hội.
Trong báo mạng điện tử: Tác giả làm sáng tỏ
các khung tri nhận báo chí qua các mô hình CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH,
CHÍNH TRỊ LÀ TRÒ CHƠI / CANH BẠC, QUỐC GIA LÀ CON NGƯỜI, THỂ THAO LÀ CHIẾN
TRANH (quân sự hóa bình luận bóng đá) và CON NGƯỜI LÀ HÀNG HÓA (thị trường
chuyển nhượng cầu thủ).
2. Ẩn dụ bản thể (Ontological Metaphor):
Mô hình CON NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA trong thành ngữ:
Cơ thể người được hình dung như một vật chứa có ranh giới là bề mặt da. Trong
đó, các cơ quan nội tạng như bụng, lòng, dạ, ruột, miệng đóng vai trò là những
không gian bao chứa tâm tư, cảm xúc, trí tuệ và phẩm tính của con người.
Mô hình CHÍNH TRỊ LÀ MỘT THỰC THỂ trong báo
điện tử: Biến các khái niệm trừu tượng như quan hệ ngoại giao, chính sách hay
khủng hoảng thành khối vật chất hữu hình có thể tác động, lắp ghép, thắt chặt
hoặc sụp đổ.
3. Ẩn dụ định hướng (Orientational Metaphor):
Chuyên khảo chỉ ra tính đồng nhất sâu sắc
trong trải nghiệm nghiệm thân qua cặp trục định hướng: TRẠNG THÁI TỐT ĐỊNH
HƯỚNG LÊN / TRẠNG THÁI XẤU ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG. Hướng “lên” gắn liền với sự tăng
trưởng, vị thế cao và cảm xúc tích cực; trong khi hướng “xuống” biểu thị sự suy
thoái, thất bại và khủng hoảng - một quy luật tri nhận nhất quán từ thành ngữ
cổ truyền đến chỉ số kinh tế báo chí hiện đại.
Công trình chuyên khảo của PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh có những
đóng góp thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa
ngôn ngữ, văn hóa và tư duy. Bên cạnh việc nhận diện những mô hình ẩn dụ mang
tính phổ quát, công trình chỉ ra hệ thống ẩn dụ đặc thù trong tiếng Việt, phản
ánh những dấu ấn riêng của văn hóa tộc người và tâm lý dân tộc. Với giá trị học
thuật và tính ứng dụng cao, cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên
cứu, giảng dạy và đào tạo sau đại học trong các lĩnh vực Ngôn ngữ học, Văn hóa
học, Phân tích diễn ngôn và Truyền thông; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học và
những gợi mở thiết thực cho việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, dịch
thuật đối chiếu và nghiên cứu giao thoa văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc
tế.
Với nguồn ngữ liệu phong phú, phương pháp xử lý dữ liệu nghiêm
túc cùng hệ thống lập luận chặt chẽ, cuốn chuyên khảo “Ẩn dụ ý niệm trên tư liệu thành ngữ và báo mạng
tiếng Việt” của PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh khẳng định vị thế là
một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận giàu giá trị. Trang thông tin
điện tử Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân
trọng giới thiệu công trình này tới đông đảo các nhà khoa học, giảng viên, nghiên
cứu sinh và quý độc giả!