Khoa Triết học

Sinh hoạt khoa học “Các học thuyết chính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại”

Ngày đăng: 16/06/2014 | Lượt xem: 1416

Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Học viện Khoa học xã hội đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với chủ đề: “Các học thuyết chính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại”. TS. Vũ Mạnh Toàn – Phó Trưởng phòng Phòng Biên tập – Trị sự kiêm giảng viên Khoa Triết học - Học viện Khoa học xã hội được mời làm diễn giả.

 

TS. Vũ Mạnh Toàn thuyết trình về đề tài nghiên cứu “Các học thuyết chính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại”

 

Nghiên cứu các học thuyết chính trị trên thế giới là một trong những chủ đề đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả không chỉ trong chuyên ngành chính trị học mà còn các liên ngành khác như triết học, luật học. Có thể khẳng định rằng, không thể hiểu rõ bản chất khoa học và ý nghĩa thực tế vai trò của Nhà nước và pháp luật nếu không nắm bắt được lịch sử các học thuyết chính trị từ trước tới nay. Đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta, việc nhận thức các học thuyết chính trị khác ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin là một công việc có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay. Nghiên cứu các học thuyết chính trị góp phần nhận thức được quy luật phát sinh, phát triển của các trào lưu tư tưởng chính trị, khám phám ra bản chất của các hiện tượng chính trị gắn với các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trên cơ sở đó góp phần tiếp thu, vận dụng những giá trị tư tưởng, tinh hoa văn hóa chính trị của nhân loại vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay.

Trong báo cáo khoa học của mình, tác giả đưa ra các hiểu biết về học thuyết Tam quyền phân lập như một mô hình quản lý nhà nước với mục tiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm quyền, bảo vệ tự do và công bằng của pháp luật. Hiện nay học thuyết này vẫn còn giá trị to lớn, được vận dụng và thể chế hóa trong hiến pháp hiện đại của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Để giúp các cử tọa hiểu rõ hơn về học thuyết Tam quyền phân lập, tác giả đã nêu rõ lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng tam quyền phân lập, với người đưa ra ý tưởng phân chia quyền lực nhà nước đầu tiên là Platôn (427-347 TCN) thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Kế tiếp là Arixtốt (384 – 322 tr.CN) được xem như người khởi xướng tư tưởng tam quyền phân lập trong bối cảnh chế độ thành bang của Hy Lạp đang suy tàn, chế độ chiếm hữu nô lệ đã lung lay đến gốc rễ. Tư tưởng về tam quyền của Aristotle nhằm để tránh độc quyền của nhà nước, vì vậy theo ông cần phải phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh cơ quan quyền lực: ông gọi là: lập pháp, hành pháp và phân xử. Tuy nhiên, Aristotle mới dừng lại ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành và mối quan hệ bên trong giữa những thành tố này.

Trong thời kỳ Trung đại (Đêm trường Trung cổ TK IV-XVI), do ảnh hưởng của tư tưởng Thiên chúa giáo và nhà thờ, luôn nhấn mạnh vai trò tuyệt đối của Thượng đế, do đó, không có nhà tư tưởng nào tiếp tục kế thừa và phát triển những  tư tưởng tam quyền phân lập thời cổ đại.

Vào thời kỳ cận đại (TK XVI – XIX), ngay từ đầu thế kỷ XVI, chế độ phong kiến và hệ tư tưởng chính trị bị các trào lưu tư tưởng nảy sinh ở Tây Âu tấn công mạnh mẽ, chế độ phong kiến bắt đầu tan rã, các quan hệ tư bản chủ nghĩa dần hình thành. Các nhà tư tưởng thời kỳ này mạnh mẽ chống lại giáo hội Thiên chúa giáo, tòa án thiên chúa. Thời kỳ này còn được gọi là thời Phục hưng – vì đã áp dụng, phục hưng lại những giá trị, lý tưởng tốt đẹp từ thời cổ đại vào việc xây dựng hệ tư tưởng mới, trong đó có tư tưởng về phân quyền.

Đánh dấu sự trở lại của tư tưởng tam quyền phân lập thời cận đại phải nói đến tư tưởng chính trị của J.Looker. Tư tưởng chính trị của ông được thể hiện trong tác phẩm Hai luận thuyết về chính quyền. Ông được coi là người khởi thảo học thuyết về “sự phân chia quyền lực”, làm rõ tư tưởng này và luận giải cụ thể sự vận hành của “tam quyền” trong nhà nước. Ông phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền: Lập pháp; hành pháp; và liên hợp (hay còn dịch là liên minh, liên bang), trong đó quyền lập pháp thuộc nghị viện, nghị viện phải họp định kỳ để thông qua các đạo luật, tuy nhiên nghị viện không thể can thiệp vào việc thực hiện luật; quyền hành pháp thuộc về nhà vua, nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của nhà vua cũng phụ thuộc vào pháp luật và không có đặc quyền nhằm không cho phép nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm “các quyền tự nhiên của công dân”; quyền liên minh, liên bang: giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại. Quyền tư pháp chưa được đề cập đến trong quan điểm phân chia quyền lực của J.Locker, tuy nhiên, những tư tưởng chính trị của ông nói chung đã có ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng chính trị sau này. Đặc biệt là học thuyết về “quyền tự nhiên không thể tước bỏ của con người” – “tư hữu” – được các nhà lý luận Mỹ sử dụng và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789. Còn học thuyết “về sự phân chia quyền lực” của ông được Montesquieu và các nhà lý luận sau ông tiếp tục phát triển và hoàn thiện cho đến ngày nay.


PGS.TS. Trần Đình Hảo - Phó Giám đốc Học viện Khoa học xã hội chủ trì buổi

 sinh hoạt khoa học

 

            Trong báo cáo khoa học của mình, tác giả cũng giới thiệu với cử tọa về nội dung học thuyết tam quyền phân lập của Montesquie (1689 – 1755) –  nhà triết học thời Khai sáng của Pháp. Tư tưởng chính trị của ông thể hiện trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật. Trong tác phẩm này ông đã nêu lên những nét cơ bản về xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, sự phân chia và kiểm soát quyền lực nhà nước. Ông cho rằng, “kinh nghiệm hàng thế kỷ cho thấy rằng, khi nắm giữ quyền lực, bất kỳ người nào cũng có thiên hướng lạm dụng nó và người đó đi theo hướng ấy, cho tới lúc chưa đạt tới giới hạn”. Ông là người đã có công lao tổng kết tất cả những quan điểm về “phân chia quyền lực” trong lịch sử tư tưởng chính trị trước ông và đưa ra học thuyết “tam quyền phân lập” một cách tương đối hoàn thiện về mặt nội dung. Tác giả cũng đưa ra những đánh giá về tư tưởng tam quyền phân lập của Montesquieu. Về mặt giá trị: Thứ nhất, tư tưởng phân quyền đã ra đời rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển thành học thuyết tam quyền phân lập ở Tây Âu vào thế kỷ XVII-XVIII với hai nhà tư tưởng tiêu biểu là J.Locke và Montesquieu. Tư tưởng tam quyền phân lập đã góp phần chống lại chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến ở Anh, Pháp thời bấy giờ, mở đường cho cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, mang lại quyền tự do cho con người. Thứ hai, nội dung chính yếu và giá trị của tư tưởng tam quyền phân lập cho đến nay vẫn còn ý nghĩa thiết thực. Bởi vì, nguyên tắc của tam quyền phân lập là phân chia quyền lực tối thượng của nhân dân phải được phân chia thành ba hình thái quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có nghĩa là ba quyền này phải chia tách khỏi nhau, độc lập với nhau, không có cái nào hơn cái nào. Ba nhánh quyền này được giao cho ba cơ quan  khác nhau, độc lập nhau, có phương thức hình thành và hoạt động khác nhau: Lập pháp thuộc Quốc hội; Hành pháp thuộc Chính phủ; Tư pháp thuộc Tòa án. Quyền lập pháp chỉ phản án ý mốn chung của nhân dân; Quyền hành pháp nhằm mục đích thực hiện ý muốn chung của nhân dân. Thứ ba, cơ chế hoạt động của tam quyền phân lập là một những đóng góp lớn của Montesquieu. Để tránh tập trung quyền lực dẫn đến độc đoán thì các cơ quan quyền lực này cần phải phân chia và có cơ chế kiểm soát, trong đó việc dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực là một quan điểm tiến bộ và khả thi nhất. Việc phân chia và kiểm soát quyền lực nhà nước cho thấy quan điểm về quyền lực nhà nước là quyền lực chung của toàn xã hội, do vậy nó phải được sử dụng đúng mục đích là bảo vệ quyền lợi chung của mọi người, chống lại sự độc chiếm quyền lực về tay một người hay một tổ chức, đảm bảo không có cơ quan quyền lực nào vượt qua giới hạn cho phép để độc chiếm quyền lực. Thứ tư, có thể khảng định rằng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước thành tam quyền phân lập được Montesquieu kế thừa và phát triển là một trong những học thuyết chính trị quan trọng nhất của nhân loại cho đến nay, nó có tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn tổ chức nhà nước của hầu hết các quốc gia cho đến hiện nay. Nó được thể hiện là các nguyên tắc căn bản trong Hiến pháp của nhiều quốc gia. Về một số hạn chế: Do hoàn cảnh lịch sử cụ thể thời kỳ Montesquieu nên tư tưởng tam quyền phân lập của ông không tránh khỏi những hạn chế của thời đại: Thứ nhất, dù quan điểm tam quyền phân lập có được thực hiện triệt để đến đâu thì vẫn không tránh không tránh được xu hướng quyền lực tập trung vào giai cấp thống trị. Bởi vì, bản thân quyền lực nhà nước là một chỉnh thể, gồm các bộ phận cấu thành và quan hệ hữu cơ với nhau. Khi Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp đồng thời ông lại là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, như vậy quyền lập pháp và quyền hành pháp thực tế đều bị tri phối bởi một đảng, sự phân quyền chỉ còn trên lý thuyết. Thứ hai, trong tư tưởng tam quyền phân lập của ông mặc dù khi nói đến quyền tư pháp có sự lựa chọn quan tòa từ đa số người dân. Tuy nhiên, đối với những người phạm tội là giới quý tộc thì ông lại đưa ra ba trường hợp trong đó nhà quý tộc được đối xử đặc biệt. Do vậy, quan điểm của ông chưa thực sự triệt đê, vẫn bảo vệ quyền lợi cho giai cấp quý tộc. Thứ ba, thực hiện tam quyền phân lập một cách triệt để có thể dẫn tới tính tách rời của các cơ quan quyền lực, mâu thuẫn giữa các cơ quan quyền lực vì lợi ích của các đảng phái dẫn đến ảnh hưởng tới lợi của những người dân bầu lên các cơ quan quyền lực này. Ví dụ “đóng cửa chính phủ Mỹ” là điển hình của hạn chế này.

Như vậy, thông qua Báo cáo khoa học của mình, tác giả đã khái quát lại bốn nội dung chính của Học thuyết tam quyền phân lập gồm: 1. Quyền lực nhà nước được cấu thành từ ba quyền: lập pháp; hành pháp; tư pháp; 2. Ba hình thái quyền lực này được trao cho ba cơ quan khác nhau thực hiện; 3. Ba cơ quan này độc lập tương đối với nhau; 4. Ba nhánh quyền lực này chế ước, kiểm soát lẫn nhau để chống lại lạm quyền.

                                             

                          Tin và ảnh: Bích Hạnh - Mai Hoa